Thứ Năm, 24 tháng 4, 2014

Tiểu sử Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II


4/23/2014 11:35:32 PMKarol Józef Wojtyła, lấy danh hiệu Giáo Hoàng là Gioan-Phaolô II sau cuộc bầu chọn ngày 16.10.1978, sinh ngày 18.05.1920 tại Wadowice, một thành phố cách Kraków (Ba Lan) chừng 50 km.
GioaPhaolo2.jpg  
Ngài là người con út trong 3 người con của ông Karol Wojtyła và bà Emilia Kaczorowska, qua đời vào năm 1929. Người anh cả của ngài là Edmund, bác sĩ, qua đời năm 1932 và thân sinh của Ngài, một sĩ qua quân đội qua đời vào năm 1941. Trong khi chị của Ngài, Olga, qua đời trước khi Ngài được sinh ra.

Được rửa tội vào ngày 20.06.1920 tại nhà thờ giáo xứ Wadowice do cha Franciszek Zak; rước Lễ lần đầu lúc 9 tuổi và lãnh nhận bí tích Thêm Sức lúc 18 tuổi. Sau khi học hết chương trình trung học tại Marcin Wadowita, Wadowice, năm 1938, cậu ghi danh vào Đại Học Jagellónica, Cracovia.

Khi quân xâm lược naziste đóng cửa trường Đại học vào năm 1939, cậu Karol làm việc (1940-1944) trong một hầm mỏ, và sau đó, trong một nhà máy hóa chất Solvay để kiếm sống và tránh bị đưa vào các trại tập trung bên nước Đức.

Từ năm 1942, cảm thấy mình có ơn gọi làm linh mục, cậu bắt đầu theo học tại Đại Chủng Viện chui tại Cracovia dưới sự hướng dẫn của chính Tổng Giám Mục Cracovia, ĐHY Adam Stefan Sapieha. Trong thời gian đó, thầy cũng là một trong những người tổ chức “Kịch Nghệ Rapsodico”, cũng dưới hình thức chui.



Sau khi chiến tranh kết thúc, thầy tiếp tục theo học trong Đại Chủng Viện Cracovia mới được mở cửa lại, và tại Phân Khoa Thần Học của Viện Đại Học Jagellónica, cho đến khi chịu chức linh mục tại Cracovia vào ngày 11.11.1946, do sự đặt tay của Đức Tổng Giám Mục Sapieha.

Sau đó, ngài được gởi qua Roma để theo học dưới sự hướng dẫn của cha Dòng Đa Minh người Pháp, cha Garrigou-Lagrange, và vào năm 1948, ngài đậu tiến sĩ thần học với luận án: “Đức tin trong các tác phẩm của Thánh Gioan Thánh Giá” (Doctrina de fide apud Sanctum Ioannem a Cruce). Trong thời gian này, vào các kỳ nghỉ hè, ngài thường làm việc mục vụ cho người Ba Lan tại Pháp, Bỉ và Hòa Lan.

Vào năm 1948, ngài trở về Ba Lan, lúc đầu làm phó xứ Niegowić, gần Cracovia, và sau đó, làm phó xứ Thánh Floriano, trong thành phố. Đồng thời, ngài cũng làm tuyên úy sinh viên cho đến năm 1951, vừa theo học triết học và thần học. Vào năm 1953, ngài trình luận án tại Đại Học Công Giáo Lublino với đề tài: “Thẩm định khả năng thiết lập một nền luân lý Ki-tô từ hệ thống luân lý của Max Scheler”. Sau đó, ngài trở thành giáo sư Thần Học Luân Lý trong Đại Chủng Viện Cracovia và tại Phân Khoa Thần Học Lublino.

Ngày 04.07.1958, Đức Giáo Hoàng Piô XII đặt ngài làm giám mục hiệu tòa Ombi và giám mục phụ tá Cracovia. Ngài được thụ phong giám mục vào ngày 28.09.1958 tại nhà thờ chánh tòa Wawel (Cracovia), do sự đặt tay của Đức Tổng Giám Mục Eugeniusz Baziak.

Ngày 13.01.1964, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đặt ngài làm Tổng Giám Mục Cracovia và rồi đề cử ngài lên tước vị Hồng Y vào ngày 26..06.1967.

Ngài tham dự Công Đồng Vaticano II (1962-1965) với sự đóng góp quan trọng trong việc soạn thảo Hiến Chế Gaudium et Spes. Với tư cách Hồng Y, ngài cũng là thành viên trong 5 Thượng Hội Đồng Giám Mục trước khi trở thành Giáo Hoàng.

Các Hồng Y đã bầu chọn ngài làm Giáo Hoàng vào ngày 16.10.1978. Ngài đã chọn danh hiệu là Gioan-Phaolô II và ngày 22.10, ngài đã long trọng khởi đầu tác vụ Thánh Phêrô. Ngài là Đấng Kế Vị thứ 263. Triều đại của ngài là một trong những triều đại lâu dài nhất trong lịch sử của Giáo Hội và kéo dài đến 27 năm.



Đức Gioan-Phaolô II đã thi hành sứ vụ của mình với tinh thần truyền giáo không mệt mỏi, dồn mọi nỗ lực lo lắng việc mục vụ đối với mọi Giáo Hội và đức ái mục tử mở ra cho toàn thể nhân loại. Ngài đã thực hiện 104 chuyến đi trên toàn thế giới và 146 cuộc viếng thăm mục vụ tại nước Ý. Với tư cách là giám mục Roma, ngài đã thăm 317 giáo xứ (trên 333 giáo xứ).

Hơn mọi Vị Tiền Nhiệm khác, ngài đã gặp gỡ Dân Chúa và các Nhà Lãnh Đạo của nhiều Dân Nước: Các buổi Triều Yết vào ngày Thứ Tư hằng tuần (1166 lần trong suốt Triều Đại của ngài) đã có hơn 17 triệu 600 ngàn khách hành hương tham dự, đó là chưa kể đến những buổi Triều Yết đặc biệt và các Nghi Lễ Tôn Giáo (có hơn 8 triệu khách hành hương chỉ trong Đại Năm Thánh 2000), cũng chưa kể đến hàng triệu tín hữu mà ngài đã gặp gỡ trong các cuộc viếng thăm mục vụ tại Ý, cũng như trên khắp thế giới. Rất nhiều nhân vật chính trị mà ngài đã tiếp qua các buổi Triều Yết: chỉ cần nhớ đến 38 lần viếng thăm chính thức và 738 lần Triều Yết hoặc gặp gỡ với các Vị Nguyên Thủ Quốc Gia, cũng như 246 buổi Triều Yết và gặp gỡ với các Vị Thủ Tướng Chính Phủ.



Lòng yêu mến đối với các bạn trẻ đã hối thúc ngài thành lập những Ngày Giới Trẻ Thế Giới kể từ năm 1985. 19 cuộc Họp MặtGMG đã diễn ra dước Triều Đại của ngài đã qui tụ hàng triệu bạn trẻ trên khắp thế giới. Cũng như ngài đã hết lòng quan tâm đến Gia Đình và đã tổ chức những Đại Hội Gia Đình Thế Giới từ năm 1994.

Đức Gioan-Phaolo II phát huy thành công trong việc đối thoại với người Do Thái và đại diện của các tôn giáo, bằng việc mời gọi họ đến những Cuộc Gặp Gỡ Cầu Nguyện cho Hòa Bình, cách đặc biệt tại Assisi.

Dưới sự hướng dẫn của ngài, Giáo Hội tiến về ngàn năm thứ ba và đã cử hành Đại Năm Thánh 2000, theo những đường nét đã được trình bày trong Tông Thư Tertio millennio adveniente. Và rồi Giáo Hội đối đầu với thời đại mới, lại được lãnh nhận những chỉ dẫn trong Tông Thư Novo millennio ineunte, trong đó, ngài cho các tín hữu thấy hành trình của thời tương lai.

Với các Năm Thánh Cứu Độ, Năm Thánh Mẫu, Năm Thánh Thể, Đức Gioan- Phaolô II đã phát huy việc canh tân đời sống thiêng liêng của Giáo Hội. Ngài cũng đã tiến hành nhiều cuộc phong thánh và chân phước để đưa ra nhiều tấm gương thánh thiện cho con người thời đại hôm nay: Ngài đã cử hành 147 buổi lễ phong chân phước, gồm 1338 vị và 51 cuộc lễ phong thánh, gồm 482 vị thánh. Ngài cũng đã tuyên phong Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu làm Tiến Sĩ Giáo Hội.

Ngài đã mở rộng con số của Hồng Y Đoàn, tấn phong đến 231 trong 9 mật nghi (1 ẩn danh và cũng không được nêu lên trước khi ngài qua đời). Ngài cũng triệu tập 6 Công Nghị của Hồng Y Đoàn.

Ngài đã chủ tọa 15 Thượng Hội Đồng Giám Mục: 6 thông thường (1980, 1983, 1987, 1990, 1994 và 2001), 1 Thượng Hội Đồng bất thường (1985) và 8 Thượng Hội Đồng đặc biệt (1980, 1991, 1994, 1995, 1997, 1998 [2] và 1999).

Ngài ban hành 14 Thông Điệp, 15 Tông Huấn, 11 Tông Hiến và 45 Tông Thư. Ngài cũng đã ban hành cuốn Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, dưới ánh sáng của Truyền Thống, đã được Công Đồng Vaticano II giải thích cách có thẩm quyền. Ngài đã sửa đổi Bộ Giáo Luật Tây Phương và Đông Phương, cũng như đã thiết lập thêm các cơ chế mới và cải tổ Giáo Triều Roma.



Đức Gioan-Phao-lô II, như một Tiến Sĩ, đã xuất bản 5 cuốn sách: “Bước qua ngưỡng cửa Hy Vọng” (tháng 10.1994); “Hồng Ân và Mầu Nhiệm: kỷ niệm 50 linh mục” (tháng 11.1996); “Trittico romano”, những bài suy niệm dưới hình thức thơ văn (tháng 3.2003); “Hãy đứng dậy, chúng ta cùng đi!” (tháng 5.2004); “Ký ức và Căn Tính” (tháng 2.2005).

Ngài qua đời tại Vaticano ngày 02.04.2005, lúc 21.37, lúc gần hết ngày thứ bảy và đã bước vào Ngày của Chúa, trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh và cũng là Ngày Chúa Nhật Lễ Lòng Chúa Thương Xót.



Từ chiều hôm ấy cho đến lễ an táng của ngài vào ngày 08.04, đã có hơn ba triệu khách hành hương đến Roma để kính viếng ngài, dù phải xếp hàng chờ đợi cả 24 giờ mới có thể vào được bên trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô.

Ngày 28.04 sau đó, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã miễn chuẩn thời gian chờ đợi 5 năm sau ngày qua đời để khởi sự thủ tục phong chân phước và phong thánh cho Đức Gioan-Phao-lô II. Thủ tục này đã được chính thức khai mở vào ngày 28.06 2005 do Đức Hồng Y Camillo Ruini, Tổng Đại Diện coi sóc giáo phận Roma.

Phòng Báo Chí Tòa Thánh

Linh mục Augustinô chuyển ngữ

Thứ Tư, 23 tháng 4, 2014

Một phụ nữ Anh được Đức Thánh Cha chọn làm chủ tịch Giáo hoàng học viện

Thứ ba - 15/04/2014 22:44
Một phụ nữ Anh được ĐTC chọn làm chủ tịch Giáo hoàng học viện
Một phụ nữ Anh được ĐTC chọn làm chủ tịch Giáo hoàng học viện

Trong một thông cáo báo chí được Tòa Thánh phát hành hôm 12/4, “Đức Thánh Cha đã chỉ định bà Margaret Scotford Archer làm chủ tịch Viện Hàn Lâm Giáo Hoàng về Khoa học Xã hội”. Vị chủ tịch mới sinh tại Grenoside, Anh Quốc. Bà có học vị thạc sỹ của trường Đại học London, hiện tại là giáo sư ở l’Ecole Polytechnique Fédérale de Lausanne, Thụy Sỹ. Trước đó, bà từng dạy tại đại học Warwick, Vương Quốc Anh.



Một phụ nữ Anh được ĐTC chọn làm chủ tịch Giáo hoàng học viện

CNA cho biết, trong một thông cáo báo chí được Tòa Thánh phát hành hôm 12/4, “Đức Thánh Cha đã chỉ định bà Margaret Scotford Archer làm chủ tịch Viện Hàn Lâm Giáo Hoàng về Khoa học Xã hội”.
 
Vị chủ tịch mới sinh tại Grenoside, Anh Quốc. Bà có học vị thạc sỹ của trường Đại học London, hiện tại là giáo sư ở l’Ecole Polytechnique Fédérale de Lausanne, Thụy Sỹ. Trước đó, bà từng dạy tại đại học Warwick, Vương Quốc Anh.
 
Trên trang mạng tiểu sử cá nhân của Giáo hoàng Học viện, bà Archer cho biết lĩnh vực nghiên cứu của bà là “triết học và khoa học xã hội”. Bà cũng quan tâm đến việc “làm sao lý thuyết hóa sự tương tác giữa các yếu tố xã hội, văn hóa, cơ cấu và con người,  cũng như để giải thích làm thế nào sự tương tác giữa chúng dẫn tới sự phát triển của cả 3 yếu tố”.
 
Là một nhà khoa học xã hội, bà Archer đã xuất bản nhiều sách báo khám phá về sự đa dạng của các khía cạnh xã hội học, trong đó có một nghiên cứu về cách “phản xạ của con người trong vai trò làm trung gian giữa bận tâm cá nhân và điều kiện cấu tạo của chúng ta”.
 
Bà Archer là một nhà lý luận hàng đầu trong truyền thống hiện thực phê phán, và là thành viên sáng lập Viện Hàn Lâm Giáo Hoàng về Khoa học Xã hội khi nó được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II thành lập vào năm 1994.
 
Hiện nhóm này gồm 20 đến 40 học giả, họp mặt ít nhất 2 lần một năm để nghiên cứu các đề tài đa dạng về xã hội, kinh tế, chính trị, khoa học pháp lý và sự liên quan của chúng đến Giáo huấn Xã hội Công Giáo. Những chủ đề bàn luận còn bao gồm quyền con người, tự do tôn giáo và toàn cầu hóa.
 
Viện Hàn Lâm Giáo Hoàng về Khoa học Xã hội cũng tự mô tả mình là nơi chuyên “tổ chức các buổi hội nghị, hội thảo với các chủ đề cụ thể, thúc đẩy các khảo sát và nghiên cứu khoa học, giúp đỡ các tổ chức và cá nhân, xuất bản các kết quả tư vấn, phát hành tài liệu về khoa học tự nhiên”.
 
Ngoài ra, bà Archer đã từng là chủ tịch nữ đầu tiên của Hiệp Hội Xã hội học Quốc tế từ năm 1986 đến 1990, và đang là thành viên tổ chức Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Anh Quốc.
 
PV.VRNs
http://baoconggiao.com/vi/news/Giao-Hoi-Hoan-Vu/Mot-phu-nu-Anh-duoc-DTC-chon-lam-chu-tich-Giao-hoang-hoc-vien-3303/

Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

THÔNG BÁO: Kênh truyền hình trực tiếp Lễ Tuyên Thánh 2 vị Giáo Hoàng bằng tiếng Việt


4/22/2014 6:31:53 PMKính thưa quý bạn đọc,
Vào lúc 10 giờ sáng giờ Rôma tức 3 giờ chiều giờ Việt NamChúa Nhật 27.04.2014, Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ long trọng cử hành Thánh Lễ tuyên thánh cho Đức Chân Phước Giáo hoàng Gioan XXIII và Đức Chân Phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II tại quảng trường thánh Phêrô.

DongTen.jpg

Sẽ có 9 vệ tinh thuộc hệ thống Eutelsat, cộng thêm các vệ tinh đã dùng trong dịp thế vận hội Olimpic mùa đông ở Sochi truyền hình trực tiếp lễ tuyên thánh trên toàn thế giới. Đài Sky sẽ có 15 máy thu hình theo kỹ thuật 4K. 
Nhằm giúp các tín hữu Công giáo tại Việt Nam có thể dễ dàng theo dõi và hiệp thông trong sự kiện trọng đại này, kênh Youtube của Dòng Tên Việt Nam sẽ truyền hình, thông dịch và bình luận trực tiếp bằng tiếng Việt Thánh lễ tuyên thánh. 
Chúng tôi sẽ bắt đầu phát lúc 14:30 giờ VN để giới thiệu về hai vị và những điều liên quan tới việc tuyên thánh, cũng như một cảnh tổng quan về Roma và thành phần tham dự Thánh Lễ này. 

Kính mời quý bạn đọc đón theo dõi và hiệp thông với Đức Thánh Cha Phanxicô, với Giáo hội Hoàn vũ để tạ ơn Thiên Chúa.

QUÝ VỊ CÓ THỂ BẤM VÀO ĐÂY ĐỂ XEM VIDEO TƯỜNG THUẬT TRỰC TIẾP THÁNH LỄ TUYÊN THÁNH

(HIỆN TẠI ĐỒNG HỒ YOUTUBE ĐANG ĐẾM NGƯỢC THỜI GIAN VỀ GIỜ LỄ)



(Chỉnh Trần, S.J., dongten.net 21.04.2014)

(HIỆN TẠI ĐỒNG HỒ YOUTUBE ĐANG ĐẾM NGƯỢC THỜI GIAN VỀ GIỜ LỄ) http://www.youtube.com/watch?v=2qTuL5zCxDQ
http://conggiao.info/news/1488/22520/thong-bao-kenh-truyen-hinh-truc-tiep-le-tuyen-thanh-2-vi-giao-hoang-bang-tieng-viet.aspx

Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

Lễ Dầu ở nhà thờ Đăk Mốt, Giáo Phận Kontum, Thứ Tư Thánh 16-04-2014


VRNs (17.04.2014) – Kontum- “Chúng ta trên cương vị mục tử chăn dắt đoàn chiên của Thiên Chúa thì nên học hỏi theo gương Thầy Chí Thánh Giêsu với lòng khiêm nhường bao dung “Các con hãy học nơi Thầy, vì Thầy có lòng hiền hậu và khiêm nhường trong lòng” Mt 11. 29” – Đức giám mục giáo phận Kontum đã khởi đầu như vậy khi bước vào thánh lễ Truyền Dầu.
1404160006
Thánh lễ Truyền dầu của Giáo phận Kontum đã diễn ra lúc 5 giờ 30 sáng nay ngày 16.04.2014 tại Giáo xứ Đak Mót. Chủ tế thánh lễ là Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh, Giám mục Giáo phận, trong đoàn đồng tế có Đức Cha Phêrô Trần Thanh Chung, và hơn 130 Linh mục đang làm mục vụ trong Giáo phận cùng hơn 100 nữ tu, chủng sinh và hơn 3000 giáo dân tham dự thánh lễ.
Trong bài giảng Đức Cha Micae trong tâm tình Cha con trong một nhà, Ngài nhắn nhủ với giáo dân: “Tôi xin anh chi em hãy cầu nguyện thật nhiều cho chúng tôi là những người chăm lo mục vụ trong giáo phận, xin cho được chu toàn bổn phận dẫn dắt đoàn chiên Chúa”
Với các linh mục trong giáo phận, Ngài nhắc nhở: “Biết bao nhiêu thảm cảnh đau thương, biết bao nhiêu tai ương do con người gây ra, biết bao nhiêu cuộc chiến giữa phe phái này phe phái nọ xảy ra đều xuất phát từ tính kiêu căng, ngạo mạn, tự đắc, nên chúng ta trên cương vị mục tử chăn dắt đoàn chiên của Thiên Chúa thì nên học hỏi theo gương Thầy Chí Thánh Giêsu với lòng khiêm nhường bao dung – Các con hãy học nơi Thầy, vì Thầy có lòng hiền hậu và khiêm nhường trong lòng” Mt 11. 29”.
Trong thánh lễ Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh trên cương vị Giám Mục giáo phận đã cử hành nghi thức làm phép dầu Thánh.
Cuối thánh lễ Đức Cha chúc lành và ban ơn toàn xá cho Cộng đoàn tham dự Thánh Lễ.
1404160008
Dầu Thánh dùng trong Giáo Hội Công Giáo được chia ra làm 3 loại sau đây :
Dầu Dự Tòng (OS):
Đây là dầu được xức cho Dự Tòng để xin Thiên Chúa là sức mạnh và là Đấng luôn che chở qua việc xức dầu này xin Chúa  đoái thương ban sức mạnh cho những người dự tòng khi đã xức dầu này, ban cho họ lãnh nhận sự khôn ngoan và sức mạnh của Chúa mà thông hiểu sâu xa Phúc âm của Đức Kitô, quảng đại chấp nhận những khổ cực trong đời sống Kitô hữu, và xứng đáng trở nên dưỡng tử của Chúa từ đó họ được vui mừng tái sinh và sống trong Hội Thánh Chúa.
Dầu Bệnh Nhân (OI):
Đây là dầu được xức cho bệnh nhân để xin Thiên Chúa là mọi nguồn an ủi, nâng đỡ chữa lành bệnh tật người đau yếu đang mang. Xin Chúa Thánh Thần đấng ban phát ân sủng  từ trời xuống, hầu bổ dưỡng thân xác để nhờ ơn phúc lành của Chúa và khi ai được xức dầu này đều lãnh nhận ơn hộ vực thân xác, tâm hồn từ đó được khỏi mọi đau đớn, bệnh hoạn tật nguyền.
Dầu Thánh (SC):
Đây là dầu xức cho các tân tòng trong Bí tích Rửa tội, xức cho các kitô-hữu trong Bí tích Thêm sức, xức cho các Linh mục và một cách sung mãn cho các Giám mục trong Bí Tích Truyền Chức Thánh. Dầu này còn được dùng để Cung hiến Bàn thờ và Nhà thờ. Để xin Thiên Chúa Quyền năng thông ban cho người lãnh nhận dầu này được đón nhận Chúa Thánh Thần và đón nhận ân lực vô biên của Người. Xin cho người được xức dầu lãnh nhận ơn cứu độ, ơn tái sinh bởi nước và Thánh Thần, làm cho họ được tham dự vào đời sống vĩnh cửu và đồng hưởng vinh quang trên trời.
Với Giáo phận Kontum Đức Cha Micae mong muốn mọi tín hữu dù Kinh hay Dân tộc đều cùng tham phần vào Thánh lễ truyền dầu nên Ngài đã quyết định Thánh lễ sẽ tuần tự được tổ chức tại các Giáo điểm trong Giáo phận khởi đầu từ năm 2013 là Giáo điểm An Khê và năm nay là Giáo điểm Đak Mot.
1404160007
Theo tư liệu của Giáo phận Kontum nói về Địa sở Đak Mot.
Với địa bàn gồm 2  huyện cực bắc của Tỉnh Kontum: Ngọc Hồi và Dak Glei trong phạm vi trên dưới 100km, địa sở Dak Mot gồm 3 xứ Dak Mot, Dak Jâk và Dak Tuk. Giáo xứ Dak Mot, trung tâm của địa sở, thuộc thôn 5  thị trấn Plei Kần huyện Ngọc Hồi, nằm cách thành phố Kontum khoảng 67km về phía Bắc, ở ngay trung tâm ngã ba Đông Dương, cách đều biên giới Lào và Campuchia khoảng 20km. Có thể nói đây là một giáo điểm hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển truyền giáo vươn ra hai nước Lào và Campuchia của giáo phận Kontum.
Sự phát triển của Dak Mot phải nói là một mầu nhiệm. Năm 1905 một đoàn người đại diện người dân tộc Sêđang gặp cha Bonnal tại Kon Hơring. Ngài rất đỗi ngạc nhiên khi nghe nói họ đến từ làng Đak Kơna để xin ngài một đặc ân được nhận vào đàn chiên Giáo Hội mà trước đó Ngài không hề biết đến họ là ai.
Tháng 10 năm 1905 Linh mục quản nhiệm Vialleton và là cha Bề trên địa phận quyết định những làng mới vừa trở lại đạo từ nay thành một địa sở riêng, một địa sở tương lai với Đak Kơna làm trung tâm và cắt cử chính linh mục Bonnal lo tổ chức mục vụ, điều hành địa sở mới.
Ngày 13.07.1923 vị thừa sai trẻ tuổi 31 tuổi linh mục Phaolô Crétin đến Kontum. Ngày 24.04.1924 sau vài tháng học tiếng Bahnar ở Kon Sơlang và tiếng Rơngao tại Kon Hơring, ngài được chỉ định đến địa sở Đak Kơna. Sau bao gian nan vì suốt thời gian dài địa sở bị bỏ trống thì đầu năm 1932, hàng loạt các làng được Chúa Thánh Thần thúc đẩy đã xin được gia nhập vào hàng ngũ con cái Chúa. Họ bằng lòng cho rửa tội các em dưới 7 tuổi, bằng lòng làm một nhà nguyện trong làng họ và đa số ghi tên vào dự tòng trước là Đak Rơman Iop sau là tới Đak Rơman Peng, Đak Long, Đak Mot, Đak Tơmbiu, Đak Rơlang và cũng cuối năm ấy có ba làng khác trở lại là Đak-Tong, Đak MotKram, Đak Brao. Qua vài năm sau thì thêm 20 làng nữa ghi tên vào danh sách cứu rỗi với 1844 tín hữu và 1005 dự tòng.
Trước sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ như thế thì linh mục Phaolô Crétin không thể cáng đáng hơn 4.000 giáo dân nằm rải rác trong một diện tích to lớn nên Đức Cha vào ngày 3-1936 quyết định chia địa sở Đak Kơna ra làm hai.  Một ở phía đông, có quốc lộ 14, xuyên từ đầu nầy qua đầu khác mà họ Đak Chô như trung tâm điểm, địa sở thứ hai ở phía tây ngã sông Pơkô, có làng Đak Mot quan trọng làm trung tâm.
Sau biến cố 1975 từ năm 1978 đến 1997, linh mục Giuse Nguyễn Thanh Liên phụ trách địa sở Dak Mot, vì hoàn cảnh khó khăn ngăn trở của nhà cầm quyền cộng sản nên ngài không thể hiện diện thường xuyên với bổn đạo được, mà phải chạy đi chạy về như con thoi giữa Ngọc Hồi và Kontum!.
Từ năm 1997 đến 2002, Đức Giám Mục trao địa sở Dak Mot thuộc quyền linh mục Simon Phan Văn Bình.
Từ năm 2003 linh mục Giuse Nguyễn Thanh Liên, Tổng Đại Diện Giáo phận Kontum, đồng thời lại đặc trách địa sở Dak Mot gồm 3 xứ: Dak Mot, Dak Jâk và Dak Tuk; với địa bàn gồm 2  huyện: Ngọc Hồi và Dak Glei; trong phạm vi trên dưới 100km.
1404160009
Ngày 02 – 06 – 2006, linh mục  Phêrô Trần công Minh được Đức Cha cử đến phụ tá Linh mục Giuse Nguyễn Thanh Liên. Mười ngày sau khi lên nơi cư trú giữa đoàn chiên đã nhiều năm vắng bóng linh mục trực tiếp mục vụ, hai vị linh mục bắt tay vào việc dựng một láng trại che nắng che mưa để giáo dân có nơi cầu nguyện và tham dự thánh lễ, lán trại được làm bằng tre nứa với diện tích khoảng 300m2 .
Ngày 28 – 06 – 2006, linh mục Hiêrônimô Lê Đình Hùng được chính thức bổ nhiệm về làm phó giáo xứ Dak Mot. Cánh đồng truyền giáo miền cực Bắc Giáo phận Kontum vẫn còn quá bao la so với 3 “thợ gặt” nên trước Tết Nguyên Đán 2009, Đức Giám Mục lại cử thêm linh mục Gioan Baotixita Hồ Quang Huyên lên với cộng đoàn. Ngày 23 – 12 – 2010 địa sở Dak Mot có thêm một cha phó nữa là cha Phêrô Vũ Trọng Hà Nguyên Khôi.
Nhà thờ Dak Mốt, Giáo hạt Dak Mốt, Giáo phận Kon Tum
Ngày 25 tháng 2 năm 2009, thứ tư lễ tro, Giáo xứ Đak Mot đã khởi công xây dựng nhà thờ mới với diện tích 980m2. Sau hơn hai năm xây dựng ngày 21/3/2011 giáo xứ đã khánh thành nhà thờ và mừng 75 năm trở thành địa sở sau khi tách ra từ địa sở Dak Kơna (1936-2011).
Khoảng tháng 11 năm 2011 linh mục Antôn Nguyễn Văn Binh được cử về làm Chánh xứ cho đến  tháng 11 năm 2013
Linh mục Giuse Võ văn Dũng làm chánh xứ và linh mục Trần Văn Trạch làm phó xứ  từ cuối năm 2013 cho đến nay.
Theo bảng thống kê năm 2010  địa sở Dak Mot có 7316 giáo dân. Đến nay con số tăng vọt vào khoảng 14.987 Giáo dân trong đó khoảng 85% là giáo dân người dân tộc và khoảng 15% là giáo dân người Kinh. Một điều đặc biệt  là nơi đây có số người khác sắc tộc nhiều nhất trong giáo phận Kontum như (Sedang, Hơlăng, Jẻ, Cajong, Brau, Thái, Mường, Nùng, Kinh…).
PV VRNs tại Kontum

Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2014

TIN GP. KON TUM: Phục sinh này giáo điểm Cheoreo không có linh mục


VRNs (11.04.2014) – Gia Lai – Ủy ban nhân dân thị xã Ayun Pa đã có văn thư chính thức đề nghị Tòa giám mục Kontum thuyên chuyển cha Vũ Văn Bằng ra khỏi thị xã Ayun Pa, nơi Đức cha Micael Hoàng Đức Oanh bổ nhiệm ngài đến làm linh mục phụ tá nhà thờ Bon Ama Djơng từ tháng 01 năm 2014.
Nhà thờ Bon Ama Djơng còn có tên là Trung tâm truyền giáo Cheoreo – Tơlúi, thuộc phường Đoàn Kết, thị xã Ayun Pa hay gọi tắt là giáo điểm Cheoreo. Giáo điểm Cheoreo được Đức cha Paul Seitz sai cha Jacques Dournes đến lập ngày 01.08.1955. Địa bàn trước đây tính theo quốc lộ 25 thì từ chân đèo Chư Sê đến giáp tỉnh Phú Yên, lấy con sông Kơlúi làm ranh giới, có hơn 20 ngàn giáo dân thuộc sắc tộc Jarai. Từ năm 2012, các giáo họ thuộc huyện Krông Pa (từ đèo Tona đến sống Kơlúi) đã được tách ra thành giáo xứ độc lập, nên hiện nay địa sở Cheoreo chỉ còn bao gồm người Jarai ở thị xã Ayun Pa, huyện Phú Thiện và huyện Ia Pa, với hơn 13 ngàn giáo dân.
Anh chị em Dự Tòng jarai đang trong những ngày cầu nguyện chuẩn bị đón nhận các bí tích gia nhập Kitô giáo - Làng Pei Athai, thuộc địa sở Cheoreo.
Năm nay địa sở Cheoreo sẽ cử hành các Bí tích nhập đạo cho khoảng 450 người. Riêng tại Bon Ama Djơng là 200.
Cha Phêrô Đinh Quốc Thái Bình, cha chính xứ của địa sở rộng 3 huyện, chuyên lo cho người Jarai lo lắng: “Nhà nước không cho cha Bằng làm lễ, Tam nhật Thánh này không biết tính sao? Vì tối thiểu đêm Vọng Phục Sinh phải cử hành ở hai nơi, và mỗi nơi Rửa tội cho trên dưới 200 người lớn. Tôi phải đi nơi xa hơn là Plei Athai”.
Huyện Ayun Pa, Tỉnh Gia Lai

Áp lực buộc cha Bằng rời khỏi Cheoreo ngày càng nhiều.
Quá bức xúc về chuyện này, chúng tôi đã đi tìm hiểu.
Cha Vinh Sơn Vũ Văn Bằng, 41 tuổi, chịu chức linh mục ngày 28.06.2012 tại Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài Gòn. Cha Bằng được Cha Giám tỉnh bổ nhiệm về sống và làm thành viên cộng đoàn DCCT Tây Nguyên. Đức cha Micael Hoàng Đức Oanh, Giám mục giáo phận Kontum bổ nhiệm cha Bằng về nhà thờ Bon Ama Djơng làm phụ tá linh mục chính xứ.
Hôm Noel 2013 vừa qua, khi cha Bằng đến dâng lễ Giáng Sinh cho anh chị em Jarai tại làng Plei Athai thì đã bị nhà cầm quyền đến ngăn cấm, không cho cử hành thánh lễ cho khoảng 2000 giáo dân đã đợi chờ sẵn sàng.
Ngày 21.01.2014, Ủy ban nhân dân thị xã Ayun Pa đã gởi văn thứ số 77/UBND-VX đến Tòa giám mục Kontum đề nghị thuyên chuyển tu sĩ Vũ Văn Bằng ra khỏi địa bàn thị xã Ayun Pa.
Tiếp đón ĐGM. GP. Kon Tum tại TTTG. Plei Chuet
Lý do Ủy ban nhân dân thị xã Ayun Pa yêu cầu Tòa giám mục Kontum đưa cha Bằng ra khỏi địa bàn thị xã Ayun Pa là căn cứ theo “Công văn số 38/BTG-CV-M, ngày 17.10.2013 của Ban tôn giáo thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh hoạt động tôn giáo của linh mục: Dòng Chúa cứu thế Việt Nam đã gởi hồ sơ đăng ký phong chức linh mục cho 7 tu sĩ của Dòng, trong đó có tu sĩ Vũ Văn Bằng. Tuy nhiên, do hồ sơ đăng ký có nhiều sai sót cho nên Ban tôn giáo thành phố Hồ Chí Minh đã có công văn hướng dẫn Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam điều chỉnh một số giấy tờ cho 7 tu sĩ, nhưng đến nay, Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam vẫn chưa hoàn tất thủ tục đăng ký phong chức linh mục. Vì vậy, tu sĩ Vũ Văn Bằng không được công nhận là linh mục. Mặt khác, về mặt Giáo hội, Tòa Tổng Giám Mục thành phố Hồ Chí Minh cũng không công nhận tu sĩ Vũ Văn Bằng là linh mục trong Tổng Giáo Phận thành phố Hồ Chí Minh”.
Về mặt giấy tờ đăng ký, cha Giuse Đinh Hữu Thoại, Chánh văn phòng DCCT VN cho biết đã làm đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật. Những đòi hỏi của Ban tôn giáo là sự tùy tiện áp đặt, không đúng quy định pháp luật.
Nghiên cứu văn thư của Ủy ban nhân dân thị xã Ayun Pa đã gởi số 77/UBND-VX đến Tòa Giám Mục Kontum, chúng tôi nhận thấy văn thư này căn cứ trên một văn bản sai pháp luật và thông tin không rõ ràng.
Ban tôn giáo thành phố Hồ Chí Minh có quyền và bổn phận công nhận tu sĩ Vũ Văn Bằng là linh mục hay không?
- Ngày 20.03.2014, Đức cha Tổng thư ký Hội đồng Giám Mục Việt Nam, Cosma Hoàng Văn Đạt, Giám Mục Giáo Phận Bắc Ninh (Tổng thư ký) đã làm việc với ông Nguyễn Khắc Huy, Vụ trưởng Vụ pháp chế Thanh tra Ban tôn giáo Chính phủ (Vụ trưởng). Sau buổi làm việc đó, Đức Cha Tổng Thư Ký đã phổ biến văn thư minh định các thủ tục hành chính xã hội về việc chủng sinh nhập học Đại chủng viện và truyền chức linh mục, ngày 27.03.2014. Về việc truyền chức linh mục, văn thư cho biết:
Ông Vụ trưởng nhấn mạnh: “Các quy định và việc quản lí tôn giáo tại các địa phương phải phù hợp với quy định của pháp luật”.
Căn cứ điều 22 của Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo, ban hành ngày 18.06.2004 thì “Việc truyền chức linh mục hoàn toàn thuộc quyền tự do của các Giám Mục, miễn là đúng Giáo Luật. Các Tòa giám mục hay Dòng tu chỉ cần gởi bản đăng ký tới Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi người đã được truyền chức linh mục cư trú để được chính thức hoạt động tôn giáo theo luật định”.
Không có điều luật nào trong Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo trao quyền và trách nhiệm cho Ban tôn giáo công nhận một công dân có phải là linh mục hay không. Trong bài phát biểu đầu năm 2014, Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng chính phủ đã khẳng định công dân được làm những gì luật pháp không cấm, và công chức chỉ được làm những gì luật pháp cho phép.
Pháp luật quy định các Tòa giám mục hay Dòng tu chỉ cần gởi bản đăng ký chính thức hoạt động tôn giáo, chứ không hề quy định gởi đăng ký phong chức linh mục.
Như vậy, Ban tôn giáo Tp.HCM đã làm một điều không hề được pháp luật cho phép, tức là hành vi sai, có dấu hiệu lạm quyền và vi phạm pháp luật.
Và như thế Ủy ban nhân dân thị xã Ayun Pa đã gởi văn thư số 77/UBND-VX đến Tòa Giám Mục Kontum đề nghị thuyên chuyển tu sĩ Vũ Văn Bằng ra khỏi địa bàn thị xã Ayun Pa dựa trên Công văn số 38/BTG-CV-M, ngày 17.10.2013 của Ban tôn giáo Tp.HCM là không có căn cứ pháp luật.
Cảnh cầu nhỏ bắc qua suối tại AYun Pa
Tổng Giáo Phận Sài Gòn có công nhận tu sĩ Vũ Văn Bằng là linh mục không?
Phải khẳng định ngay Tòa Giám Mục Tổng Giáo Phận Sài Gòn đã công nhận tu sĩ Vinh Sơn Vũ Văn Bằng và 6 tu sĩ cùng phong chức chung đợt là linh mục qua văn thư Trao năng quyền giải tội cho các linh mục này, do Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn ấn ký. Thông tin này được văn phòng Tỉnh DCCT VN xác nhận.
Tuy nhiên phải nói thêm cho rõ, cha Vinh Sơn Vũ Văn Bằng có tịch giáo sĩ thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, một Hội dòng theo công pháp Giáo hoàng, không thuộc các giáo phận quản lý. Với văn thư bổ nhiệm của Đức giám mục giáo phận Kontum, cha Bằng thuộc linh mục đoàn (với quyền mục vụ) giáo phận Kontum, nhưng tịch giáo sĩ vẫn do Dòng Chúa Cứu Thế quản lý.
Do đó với cách viết thiếu minh bạch: “về mặt Giáo hội, Tòa Tổng Giám Mục Tp.HCM cũng không công nhận tu sĩ Vũ Văn Bằng là linh mục trong Tổng giáo TP.HCM” là cách viết với hàm ý xấu, và không đúng tinh thần tôn trọng sự thật. Vì cha Bằng không hoạt động tôn giáo tại Tổng Giáo Phận Sài Gòn, nên không là thành viên của Tổng Giáo Phận là bình thường.
Ở đây, cha Bằng hoạt động tôn giáo tại giáo phận Kontum, là linh mục trong giáo phận Kontum, nên Đức giám mục giáo phận đã chính thức đăng ký hoạt động cho cha Bằng.
Như vậy thì Thị xã Ayun Pa không tin vào người có thẩm quyền công nhận linh mục là Đức Giám Mục Giáo Phận Kontum, mà đã tin theo một cơ quan không được giao quyền công nhận chức danh linh mục là ban tôn giáo TP. HCM. Nếu đây là sự vô tình do không hiểu biết thì thị xã Ayun Pa cần phải sửa ngay, nhưng nếu biết mà vẫn cố tình thì là bằng chứng thị xã Ayun Pa vi phạm pháp luật về Tín ngưỡng, tôn giáo.

Chỉ còn hai ngày nữa là bước vào Tuần Thánh, tuần lễ quan trọng nhất của năm trong đời sống đức tin Công giáo. Liệu các anh chị em Jarai, vốn đã bị chèn ép đủ kiểu, có cách nào được chăm sóc mục vụ đặc biệt trong ngày Chúa Phục Sinh sắp tới?
PV. VRNs
http://chuacuuthenews.wordpress.com/2014/04/11/phuc-sinh-nay-giao-diem-cheoreo-khong-co-linh-muc/