Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2016

Địa sở Gia Hựu - Giáo Phận Qui Nhơn - Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ

Đăng lúc: Thứ tư - 27/04/2016 07:51 - Người đăng bài viết: BTTVHQN
Quần thể nhà thờ Gia Hựu
(hình vẽ lại)


ĐỊA SỞ GIA HỰU
2.293 giáo dân 


(Trích dịch « Compte-rendu et état de la mission » de Septembre 1940 à Septembre 1941. Imprimerie de Quinhon, 1941)

Địa sở chính:   Gia Hựu
                        Nhà phước
                        Nhà mồ côi
                        Tổng cộng 766 giáo dân

Các họ nhánh: Gò Xoài: 486 giáo dân
                        Bàu Giêng: 338 giáo dân
                        Phú Sanh: 196 giáo dân
                        Kim Bồng: 132 giáo dân
                        Cẩn Hậu: 45 giáo dân
                        Hy Văn: 103 giáo dân
                        Hy Thế: 100 giáo dân
                        Phú Mỹ: 70 giáo dân
                        Cự Tài: 57 giáo dân


Suốt 35 cây số từ Trà Câu đến Gia Hựu, nằm dọc theo đường cái quan, chỉ có 3 địa sở nhỏ là Hòa Thịnh, Mỹ Trang và Diên Trường, cả ba đều thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Trước kia, cũng có khoảng 15 giáo dân ở Sa Huỳnh và 90 giáo dân trên vùng núi, ở Suối Cả trong dãy Bến Đá, sườn phía bắc, chia cắt tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Cũng nên biết rằng tổ tiên của Cha Hậu ở Suối Cả. Hiện nay, tất cả đều không còn gì, chỉ còn là kỷ niệm.

Cách đây khoảng ba mươi năm, con đường cái quan leo thẳng lên dãy Bến Đá: người ta cưỡi ngựa hoặc đi bộ qua những con đường đá gập ghềnh, có những con suối chảy cắt ngang hoặc những bụi cây xâm thực mọc lấn ra. Con đường này dài khoảng chục cây số, giữa đoạn đường, ta có thể nghỉ chân nơi nhà những người tân tòng ở Suối Cả, một họ nhánh mới mà hiện nay cũng đã không còn nữa. Ngày nay, ta đi bằng ôtô vòng qua dãy núi theo ngõ Sa Huỳnh, men theo con đường sắt và vào Bình Định qua con đèo nhỏ Bình Đê, ngay phía trên đường hầm xe lửa.

Vùng Bồng Sơn nói riêng, nơi chúng ta vừa mới đi vào, trải dài theo hướng bắc nam từ đèo Bến Đá cho đến đèo Phú Cũ, sút soát ba mươi cây số, và theo hướng đông tây từ cửa sông Lại Giang cho đến dãy núi Kim Sơn, Sơn Phong, cũng khoảng gần năm mươi cây số. Vẻ đẹp của phong cảnh, sự đa dạng và phong phú của cây trồng, những rừng dừa toát lên vẽ tươi tắn đẹp như tranh, đây là vùng đẹp nhất Trung Kỳ mà tôi từng được biết.

Khi từ đèo Bình Đê đổ xuống, nhìn về phía tay phải, cách khoảng 2 cây số đường chim bay, ta thấy như có một tháp canh vươn cao lên khỏi những ngọn dừa: đó là tháp chuông nhà thờ Gia Hựu. Ôtô rời đường cái quan khoảng một trăm mét, phía trên ga xe lửa Chương Hòa, chỉ cần vài phút là chúng ta đứng trước tiền đường nhà thờ Gia Hựu.

Lối vào nhà thờ Gia Hựu thật thoáng đãng với đài kỷ niệm hùng vĩ tưởng niệm các tử đạo năm 1885, viền theo con đường rộng là bức tường thấp bằng đá Biên Hòa được cho là có niên đại từ thời tiền sử, với hàng dừa cao vút được trồng như những tán dù. Nếu không có ngôi nhà thờ với mặt tiền màu trắng đập vào mắt, nếu không có cha Jamet cùng với cha phó của ngài là cha Thọ chạy ra đón tiếp chúng tôi, thì chắc ta cứ tưởng lạc vào cung phủ nào đấy trước thời Pháp thuộc.

Ngôi nhà thờ có 10 gian, với những hàng cột đẹp đẽ bằng gỗ cà chít (bois de fer) có đầu cột trang trí (chapiteau) phía trên mỗi cột, gian chính giữa rộng rãi với mái vòm cong bán nguyệt,  phần sau cung thánh (abside) ốp gỗ rất đẹp, các cửa kính màu hình các thánh, ghế ngồi, tòa giảng, tháp chuông, chỉ có thể nói được là tuyệt hảo. Nền nhà thờ cao hơn một mét mép hình bán cung là phần còn lại của ngôi nhà thờ trước năm 1885. Một quả chuông nặng một tấn được đặt trên tháp tạm chờ ngày xây dựng đẹp đẽ hoành tráng hơn …. Nhà xứ rộng rãi và thanh nhã. Nhà thờ và nhà xứ là niềm tự hào của cha Darré, người đã xây dựng chúng cách đây hơn mười lăm năm.

Là địa sở chính, với 766 giáo dân, có cả nhà phước và cô nhi viện, nhất là cũng gần với các họ nhánh, đặc biệt là Gò Xoài mà địa giới chỉ là một với địa sở chính, nên cha sở và cha phó ở tại Gia Hựu, mỗi cha có nhà riêng, nhân sự riêng.

Tại các họ nhánh, nhà nguyện và nhà xứ làm một với địa sở chính, đặc biệt là Xoài, Bàu Giêng và Phú Sanh: một cha phó thứ hai sẽ ở bất cứ nơi nào trong ba họ này, và cũng đã chuẩn bị kỹ lưỡng rồi. Xin cho chúng ta có thêm đông số các linh mục!

Có hai trường học ở địa sở chính, một dành cho nam, ở bên ngoài khuôn viên nhà thờ, do các sư huynh đảm nhiệm; một dành cho nữ và các trẻ nam dưới 12 tuổi trong khuôn viên nhà phước, do các nữ tu Tập viện Gò Thị đảm nhiệm. Hai trường tổng cộng khoảng trăm em, ít nhiều tùy theo mùa.

Lớp học cũng được tổ chức ở các họ nhánh, lúc chỗ này lúc chỗ kia, khi các thầy giảng không bận lớp giáo lý tân tòng hay chuẩn bị cho trẻ em xưng tội rước lễ lần đầu.

Nhìn những cơ sở đẹp đẽ và nhân lực của địa sở, ta đoán được nguồn lực vật chất dồi dào. Sự thịnh vượng này phần lớn là nhờ đầu óc thực tế của vị thừa sai giỏi giang là cha Geffroy, cha sở Gia Hựu từ năm 1879 đến 1918.

Gia Hựu không là miền đất màu mỡ với những cánh đồng lúa, ta chỉ thấy điều này ở nơi xa hơn về phía núi như Cự Tài, Cẩn Hậu, Bàu Giêng. Nhưng đây chính là xứ dừa, nhất là vùng Gia Hựu, Xoài, Kim Bồng, nơi có đất nhẹ, nhiều cát, một ít phèn, không trồng được gì ngoài cây mía gầy, khoai lang, đậu phộng, khoai mì. Vì thế, người ta nói rằng trồng một vườn dừa thì có giá hơn một thửa ruộng cùng một diện tích: lá dừa dùng làm mái lợp nhà, tàu lá làm củi đốt, thân dừa làm gỗ xây dựng, cùi dừa cho ra một loại dầu rất được yêu thích dùng vào nhiều mục đích khác nhau; với xơ dừa, người ta làm ra những sợi dây thừng, bàn chải, thảm dừa và những vật dụng khác. Các sản phẩm địa phương này có trong hầu hết mọi nhà, được bán ra khắp miền Đông Dương và cho đến tận Hồng Kông. Vài gia đình ở Xoài và Kim Bồng sản xuất những sản phẩm này ở quy mô lớn hoặc thu mua ở các vùng chung quanh, và rồi vận chuyển bằng thuyền buồm hay xe lửa đến tận Nam Kỳ hay ra tận Bắc Kỳ.

Chính vì thế mà Gia Hựu cũng như toàn vùng Bồng Sơn đã không quá khó khăn để nuôi sống số dân cư đông đúc, nói chung vẫn còn nghèo và gia tăng đều đặn hằng năm dù cho một số gia đình rời bỏ quê hương đi định cư hẳn ở Kontum và các tỉnh phía Nam. Cũng chính vì nhờ những công việc tiểu thủ công nghiệp địa phương này mà Gia Hựu phần nào nuôi sống tương đối cô nhi viện của mình.

Có ai biết được rằng vào khoảng giữa thế kỷ XVIII thì Gia Hựu đã có 600 giáo dân, Bàu Giêng có 300 giáo dân không? Ngoài một hai địa sở ở Quảng Nam, một hai địa sở ở Khánh Hòa, có nơi nào trong địa phận, ở Bình Định hay các nơi khác, lại có được một con số tương đương như vậy vào thời điểm khởi đầu công việc tông đồ tại xứ sở này? Xoài, Kim Bồng, Phú Sanh là những sở họ rất lâu đời; Cẩn Hậu và Cự Tài có từ trước năm 1885; chỉ có Hy Văn và Hy Thế là có từ sau năm 1890.

Từ năm 1840 đến 1861, Gia Hựu đã chia sẻ với Gò Thị niềm vinh dự cũng như hiểm nguy khi là chổ ẩn nấp cho Chân phước Cuênot, người đã lẫn trốn tại Gia Hựu khi những tay sai của các quan bách đạo lùng sục khiến cho Gò Thị trở thành nơi quá nguy hiểm. Chính tại Gia Hựu, như một tổng hành dinh, là nơi các sĩ tử được gởi đi Pinang để học thần học. Họ xuống thuyền ở Kim Bồng hay Tam Quan, trên những chiếc thuyền buồm của giáo dân hay người ngoại giáo. Chính họ sẽ trở lại Gia Hựu cũng bằng phương tiện ấy một vài năm sau đó để chuẩn bị chịu chức, thường thì Chân phước (Cuênot) truyền chức ở Gò Thị, và đôi khi ở ngay Gia Hựu.

Chẳng phải Đức cha Charbonnier (Trí) đến từ Pháp vào năm 1866 đã vào cửa Kim Bồng để lãnh nhận địa phận sao? Và chẳng phải Đức cha đã ở tại Gia Hựu trước hết, trước khi định cư hẳn ở Làng Sông một vài năm sau đó, nơi mà các vị kế nhiệm ngài vẫn cư ngụ cho đến năm 1931 sao?

Do đó, ta có thể kết luận mà không sợ nhầm lẫn rằng giáo dân ở Gia Hựu xưa kia không chỉ đông đúc mà còn rất tốt, hết lòng vì các linh mục của mình. Về điều này, chúng tôi có chứng từ của cha Geffroy đã viết trong hồi ký của mình khi nói về Gia Hựu trước năm 1885: “Gia Hựu là một địa sở gương mẫu” (Gia Huu était une chrétienté modèle). Tôi tin rằng chúng ta cũng có thể nhắc lại nhận xét này khi nói cách đơn giản về các địa sở của Gia Hựu ngày nay rằng chúng vẫn tốt, và Gia Hựu là tốt nhất, và còn có thể nói thêm nữa như cha Geffroy đã nói, rằng Xoài, nơi có nhiều gia đình sống nghề thương mại, cũng chưa được tốt lắm!

Cuối cùng, trong số các địa sở trong địa phận, địa sở Gia Hựu có quyền hãnh diện về các chứng nhân 1885 của mình.

Trước cuộc thảm sát, địa sở gồm có 2.781 giáo dân: 480 ở Xoài, 275 ở Bến Đá, 200 ở Bàu Giêng, 206 ở Kim Bồng, 154 ở Phú Sanh, 104 ở Tam Quan, 85 ở Cẩn Hậu, 42 ở Xóm Bàu (Gia An), 48 ở Cự Tài, 27 ở Phú Thọ, và 1.130 ở Gia Hựu, gồm cả 279 người của Nhà Dòng, Nhà Phước và Cô Nhi.

Sau cuộc chém giết ở Quảng Ngãi vào các ngày 16, 17, 18 tháng Bảy, giáo dân Trà Câu lẫn trốn được đã vào đến Gia Hựu, rõ ràng Gia Hựu cũng như toàn tỉnh Bình Định sẽ đến phiên lượt mình chẳng bao lâu nữa. Cha Geffroy lập tức dự tính kháng cự, và rồi ngay trong đêm 23 rạng 24, ngài lên thuyền đi Huế để cầu cứu. Tại đây, ngài và cha Lacassagne được Đức cha Camelbecke sai đi từ Làng Sông, đã không hội kiến được với ông Thống tướng De Courcy một giây phút nào. Còn ông thống tướng bị lừa phỉnh nên vẫn tin rằng đất nước rồi ra sẽ được bình yên.

Bão tố nổi lên một tuần sau đó.

Phân nửa giáo dân Kim Bồng trốn được vào Qui Nhơn bằng thuyền. Giáo dân Bàu Giêng ở lại, đã bị thảm sát hoặc thiêu sống trong nhà thờ; trong số những kẻ sống sót, có đứa bé lên một tuổi, sau này là cha Châu. Người mẹ đã cứu ngài thoát chết khi giao ngài cho một phụ nữ ngoại giáo ngay trước khi bà gục ngã dưới nhát chém của những kẻ giết người. Nhiều giáo dân trốn lên núi hay trong những gia đình bạn bè ngoại giáo. Một số lớn tụ về Gia Hựu, nơi bị bao vây vào ngày 4 tháng Tám.

Ở Gia Hựu, họ cố gắng chống cự. Nhưng vì thiếu nước để dập tắt các đám cháy mà quân nổi dậy đã đốt những dãy hàng rào được dùng làm thành lũy, cha Nhứt, người Việt, cha trẻ Dupont và quí chức thấy rằng không thể nào kháng cự được nên quyết định phải đi vào Qui Nhơn, cách đấy 100 cây số: họ không biết rằng lúc ấy có một chiếc thuyền đang cập bến cửa Kim Bồng để cứu họ.

Cuộc xuất hành bắt đầu ngày 5 tháng Tám, khoảng 10 và 11 giờ sáng, sau khi giải tội chung trong nhà thờ. Đây là đội quân gồm 2.000 người, đàn ông, đàn bà và con trẻ. Không bị những kẻ vây hãm đuổi theo ngay lập tức vì họ bận hôi của, các giáo dân khó nhọc đi được khoảng 15 cây số, nhưng khi đến Hội Đức, họ bị một đám quân vũ trang ào ra chặn lại tại cánh đồng Phú Trăng. Lúc ấy khoảng 4 giờ chiều. Cha Dupont, luôn chờ đợi và mong ước được tử đạo theo những bức thư cuối cùng của ngài, thấy rằng không thể tiến hay lùi được nữa, ngài đã qùy gối dưới một gốc cây bên vệ đường, và bị chém đầu ngay tức khắc ở đấy. Đó là hồi còi cho cuộc tàn sát tập thể, kéo dài suốt ngày hôm ấy cho đến đêm khuya, giữa tiếng hét man rợ của những kẻ sát nhân và tiếng kêu xé lòng của nạn nhân. Giáo dân quỳ gối đón nhận cái chết, họ không còn kháng cự nữa. Xác của họ bị lột sạch áo quần và bỏ nằm ở đấy hai ngày không mồ mã, cho đến khi ông huyện Bồng Sơn ra lệnh ném họ xuống những cái hố sâu đào vội trong những cánh đồng lúa bên phải và bên trái con đường cái.

Khi cha Geffroy đi thuyền từ Huế về Qui Nhơn trong đêm 3 rạng ngày 4 tháng Tám, từ ngoài khơi, đi ngang qua Kim Bồng và Bồng Sơn vào ngày 5, ngài thấy những cột khói đen bốc lên từ những nơi quá quen thuộc, và không mấy khó để hiểu ra mọi mặt của thảm họa – vị thừa sai này viết: “Tôi khóc ròng vì không được chết giữa giáo dân của tôi”. Nhưng Chúa Quan Phòng đã có dự kiến của mình, cha Geffroy phải trở nên nhân vật chính và là người thợ giỏi nhất trong công cuộc phục sinh sắp đến.

Mãi cho đến giữa tháng Chín 1887, cha Geffroy và giáo dân Bồng Sơn mới đánh liều trở về nhà. Có khoảng 700 người sống sót trong cả vùng Bồng Sơn, trên tổng số 7.500 giáo dân. Trước hết, cha Geffroy ở ngay tại Bồng Sơn, gần đồn lính Pháp, mấy ngày sau ngài mới trở về Gia Hựu.

Một trong những ý nghĩ đầu tiên của vị thừa sai này là những giáo dân tội nghiệp bị thảm sát tại Hội Đức. Ngài sai người khai quật di cốt họ lên, đặt vào những chiếc hòm lớn mang về Gia Hựu và chôn cất trọng thể trong một lăng mộ to lớn được xây dựng trước cổng vào nhà thờ. Buổi lễ diễn ra giữa những dòng nước mắt và tiếng nức nở của cử tọa gồm con cháu anh em của các tử đạo, không thể nào kể xiết.

Quá nhiều máu đã đổ ra nên không thể nào không phát sinh hoa trái. Từ năm 1889 đến sau 1900, con số người lương nhập đạo đã gia tăng hằng trăm người mỗi năm, đến nỗi có thể tách Đồng Quả vào năm 1894, Thác Đá và Đồng Dài vào khoảng năm 1896, và Hội Đức vào năm 1902 thành những xứ độc lập. Sự lớn mạnh phát xuất từ Gia Hựu kéo dài đến năm 1906, và có cha Geffroy là linh hồn, và rồi tiếp đến là sự kinh hoàng mà chúng tôi đã nói[1], không chỉ là dừng lại những cuộc cải đạo mà là sự thụt lùi! Tuy nhiên, điều này ít gây ảnh hưởng ở Gia Hựu hơn những vùng còn lại ở Bồng Sơn, bởi vì ở Gia Hựu các tân tòng sống giữa một số đông giáo dân kỳ cựu.

Ngày nay, nếu tính số người ở nhà phước, cô nhi và nhà chung Gia Hựu trước năm 1885 là 279 và con số này nay giảm khoảng 60, ta có thể nói rằng địa sở đã lấy lại số dân trước các vụ thảm sát.

Suy cho cùng, Gia Hựu là một trong những địa sở đẹp nhất địa phận, một thứ thiên đàng hạ giới (une sorte de paradise terrestre) cho những linh mục và thầy giảng được vinh dự làm việc nơi đây. Chỉ cầu mong sao cho một ngày không xa, Gia Hựu sẽ lại một lần nữa như thời sau năm 1885, sẽ đứng đầu một phong trào trở lại đạo mà họ có đủ nguồn tài lực và nhân lực để làm điều đó.

[1] Lý do là Nhật thắng Nga (khoảng 1905) và điều này đã tác động đến khắp vùng Viễn Đông. Những tiếng đồn về chiến tranh và bách hại do các văn thân thổi phồng lên đã lan truyền khắp xứ. Hậu quả là những người tân tòng bỏ đạo vì sợ. (chú thích của người dịch)


Đài kỷ niệm tử đạo 1885 (Mã Thánh)
(hình vẽ lại)
Tác giả bài viết: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ
Nguồn: http://gpquinhon.org/qn/news/hanh-huong/Dia-so-Gia-Huu-4877/#.V6ceK_ag-So
Sưu tầm: P. Mai Tự Cường 
Nhân ngày Hội Đồng Hương Gia Hựu (GP. Qui Nhơn) sáng 07-8-2016 tại nhà thờ Giáo xứ Tân Hương, Kon Tum - Xin đính kèm Video Thánh lễ Chúa Nhật XIX TN / C lúc 09g30 ngày 07-8-2016 đặc biệt cầu nguyện theo ý Quý bà con Đồng Hương Gia Hựu tại Giáo Phận Kon Tum xin lễ. Thánh lễ do Cha Giuse Đỗ Hiệu, Chính xứ Tân Hương chủ sự, để cùng hiệp thông mừng Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, Bổn mạng của Giáo xứ Gia Hựu.
XIN XEM VIDEO: BẤM: HỘI ĐỒNG HƯƠNG GIA HỰU HỌP MẶT TẠI TÂN HƯƠNG, KON TUM 7.8.2016
Tạ Ơn Chúa
P. Mai Tự Cường, Kon Tum

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2016

Đức Thánh Cha Phanxicô bổ nhiệm Tân Giám mục phụ tá cho Tổng giáo phận SaiGon (TPHCM)







Đức Thánh Cha Phanxicô bổ nhiệm Tân Giám mục phụ tá
cho Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh
WHĐ (25.06.2016) – Hôm nay, thứ Bảy 25-06-2016, vào lúc 12g giờ Roma (tức 17g giờ Việt Nam), Phòng Báo chí Tòa Thánh đã công bố thông tin về việc bổ nhiệm Tân giám mục phụ tá cho Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
Đức Thánh Cha Phanxicô đã bổ nhiệm linh mục Giuse Đỗ Mạnh Hùng, cho đến nay là Chưởng ấn và Thư ký của Đức Tổng giám mục Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, làm Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, hiệu toà Liberalia”.

Tiểu sử Ðức Tân Giám mục Giuse Đỗ Mạnh Hùng


  
15-09-1957:
Sinh tại Gia Định, Sài Gòn
1968-1976:
Tu học tại Tiểu chủng viện Thánh Giuse, Tổng giáo phận Sài Gòn
1976-1982:
Tu học tại Đại chủng viện Thánh Giuse, Tổng giáo phận Sài Gòn
1982-1983:
Lao động tại Nông trường Lô 6, Củ Chi
1983-1990:
Công nhân Hợp tác xã Mây Tre Lá Bạch Đằng, Quận 1
Theo học lớp tối Đại học Tổng hợp Tp. HCM, khoa Ngoại ngữ;
tốt nghiệp Cử nhân Anh văn và Cử nhân Pháp văn
30-08-1990:
Thụ phong Linh mục tại Đại chủng viện Thánh Giuse
1990-1993:
Linh mục phụ tá giáo xứ Huyện Sỹ (Chợ Đũi), TGP Tp. HCM,
và là giáo sư Anh văn tại Đại chủng viện Thánh Giuse, Tp. HCM
1993-1998:
Học tại Viện Đại học Công giáo Paris với học vị Thạc sĩ Thần học,
chuyên ngành Đào tạo linh mục
1998-2011:
Linh hướng và là giáo sư Thần học Linh đạo
tại Đại chủng viện Thánh Giuse, Tp. HCM
Từ 2001 đến nay:
Phụ trách Hiệp hội linh mục Prado tại Việt Nam
Từ 2005 đến nay:
Tổng thư ký Ủy ban Giáo sĩ và Chủng sinh,
trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam
2011- 2014:
Phó giám đốc Đại chủng viện Thánh Giuse, Tp. HCM
Từ tháng 6/2014:
Chưởng ấn Tòa Giám mục Tổng giáo phận Tp. HCM
và là Thư ký của Đức Tổng giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc


WHĐ
http://hdgmvietnam.org/duc-thanh-cha-phanxico-bo-nhiem-tan-giam-muc-phu-ta-cho-tong-giao-phan-thanh-pho-ho-chi-minh/8000.63.8.aspx
Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

Đức Thánh Cha Phanxicô bổ nhiệm Tân Giám mục phụ tá cho Tổng giáo phận SaiGon (TPHCM)







Đức Thánh Cha Phanxicô bổ nhiệm Tân Giám mục phụ tá
cho Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh
WHĐ (25.06.2016) – Hôm nay, thứ Bảy 25-06-2016, vào lúc 12g giờ Roma (tức 17g giờ Việt Nam), Phòng Báo chí Tòa Thánh đã công bố thông tin về việc bổ nhiệm Tân giám mục phụ tá cho Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
Đức Thánh Cha Phanxicô đã bổ nhiệm linh mục Giuse Đỗ Mạnh Hùng, cho đến nay là Chưởng ấn và Thư ký của Đức Tổng giám mục Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, làm Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, hiệu toà Liberalia”.

Tiểu sử Ðức Tân Giám mục Giuse Đỗ Mạnh Hùng

  
15-09-1957:
Sinh tại Gia Định, Sài Gòn
1968-1976:
Tu học tại Tiểu chủng viện Thánh Giuse, Tổng giáo phận Sài Gòn
1976-1982:
Tu học tại Đại chủng viện Thánh Giuse, Tổng giáo phận Sài Gòn
1982-1983:
Lao động tại Nông trường Lô 6, Củ Chi
1983-1990:
Công nhân Hợp tác xã Mây Tre Lá Bạch Đằng, Quận 1
Theo học lớp tối Đại học Tổng hợp Tp. HCM, khoa Ngoại ngữ;
tốt nghiệp Cử nhân Anh văn và Cử nhân Pháp văn
30-08-1990:
Thụ phong Linh mục tại Đại chủng viện Thánh Giuse
1990-1993:
Linh mục phụ tá giáo xứ Huyện Sỹ (Chợ Đũi), TGP Tp. HCM,
và là giáo sư Anh văn tại Đại chủng viện Thánh Giuse, Tp. HCM
1993-1998:
Học tại Viện Đại học Công giáo Paris với học vị Thạc sĩ Thần học,
chuyên ngành Đào tạo linh mục
1998-2011:
Linh hướng và là giáo sư Thần học Linh đạo
tại Đại chủng viện Thánh Giuse, Tp. HCM
Từ 2001 đến nay:
Phụ trách Hiệp hội linh mục Prado tại Việt Nam
Từ 2005 đến nay:
Tổng thư ký Ủy ban Giáo sĩ và Chủng sinh,
trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam
2011- 2014:
Phó giám đốc Đại chủng viện Thánh Giuse, Tp. HCM
Từ tháng 6/2014:
Chưởng ấn Tòa Giám mục Tổng giáo phận Tp. HCM
và là Thư ký của Đức Tổng giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc


WHĐ
http://hdgmvietnam.org/duc-thanh-cha-phanxico-bo-nhiem-tan-giam-muc-phu-ta-cho-tong-giao-phan-thanh-pho-ho-chi-minh/8000.63.8.aspx
Sưu tầm: P. Mai Tự Cường

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2015

Syria: Yabroud xúc động vì nước mắt của Đức Mẹ


9/19/2015 5:38:27 PMĐây đúng là phép lạ cho ngôi làng nhỏ ở Syria: trong vòng 48 giờ, bức tượng Đức Mẹ khóc lôi kéo giáo dân Kitô giáo, Hồi giáo đến xem.
Yabroud-Syria-1.jpg

Ngày 8 tháng 9, ngày Sinh nhật Đức Mẹ, thành phố Yabroud khánh thành một bức tượng lớn Đức Mẹ với sự hiện diện của Đức Giám mục giáo phận Homs, Sứ thần tòa thánh và Giáo phụ Hy Lạp-melkite công giáo, Grégoire III Laham. Các nhân vật dân sự và Hồi giáo cũng có mặt trong buổi lễ này.

Đối với linh mục Georges Haddad, cha xứ của thành phố thì bức tượng này là câu trả lời cho quân hồi giáo cực đoan, họ đã phá hủy rất nhiều tượng trong thời gian họ chiếm đóng.

Nước mắt trên tượng trong vòng hai ngày

Một vài ngày sau khi thành phố có 60 000 dân được giải phóng vào mùa xuân 2014, một vài người đã trở lại nhà của họ, thường là đã bị phá hủy hoặc bị hôi của. Linh mục Georges còn nhớ đã nghe giáo dân xác nhận có một bức tượng Đức Mẹ đã khóc trong nhà nguyện nhỏ ở bên cạnh Đền thờ Constantin-Hélène.

Ngày hôm sau trẻ con đến xem: tượng Đức Mẹ vẫn còn khóc. “Tôi thấy một giọt nước mắt nơi khóe mắt của Đức Mẹ và Đức Mẹ tỏa sáng rạng rỡ, sự kiện kéo dài 48 giờ”,  linh mục giải thích trước bức tượng đã không còn hiện tượng này nhưng mỗi ngày vẫn còn nhiều giáo dân Kitô giáo, Hồi giáo đến hành hương.

Giọt nước mắt vui mừng hay buồn bã?

Cách đó vài căn nhà, một người cha gia đình mở điện thoại cầm tay của mình và cho xem bức hình chụp khi Đức Mẹ đang khóc: “Đây là những giọt nước mắt vui mừng vì con cái của Yabroud bắt đầu trở về”, ông kể và cho xem nhiều tấm hình căn nhà ông bị bom đạn phá hủy và sau đó đã được xây lại, ông không muốn “để cho bọn khủng bố thắng”.

Linh mục Georges thì cẩn thận hơn về ý nghĩa của các giọt nước mắt này: “Chúng tôi tự hỏi đâu là lời Đức Mẹ nhắn… Đức Mẹ khóc cho nỗi đau khổ của người Syria? Chắc chắn. Đức Mẹ vui vì con cái mình đã trở về? Chắc chắn. Chúng ta không thể biết, nhưng chúng tôi vinh danh Đức Mẹ và phó thác giáo xứ của mình trong bàn tay Đức Mẹ”, linh mục cho biết, cha tự hào vì bức tượng mới được đặt ở sân nhà thờ, ngôi nhà thờ bị bọn khủng bố săn đuổi.

“Đức Mẹ liên tục che chở chúng tôi trong cuộc chiến tranh này, Mẹ không ngừng nhắc chúng tôi nhớ chúng tôi là con của Mẹ, nếu chúng tôi lơ là, chúng tôi sẽ đánh mất hy vọng”, một bà mẹ trẻ vừa trở về sau khi thành phố được giải phóng. Như thế bức tượng này là lời cám ơn, một cách để kháng cự lại và để khuyến khích cho tất cả những ai trở về dù họ phải chịu đau khổ vì cuộc chiến tranh không bao giờ dứt này.


Yabroud-Syria-2.jpg

(Giuse Nguyễn Tùng Lâm chuyển dịch, phanxico.vn 19.09.2015/

aleteia.org, Charlotte d’Ornellas, 2015-09-10)
http://conggiao.info/news/810/30833/syria-yabroud-xuc-dong-vi-nuoc-mat-cua-duc-me.aspx
Sưu tầm: P. Mai Tự Cường


Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015

Cuba ân xá hơn 3.500 tù nhân trước khi đón Đức Giáo Hoàng Phanxicô

FRIDAY, SEPTEMBER 11, 2015

Cuba ân xá hơn 3.500 tù nhân trước khi đón ĐGH

HINH
Giáo hoàng Phanxico gặp riêng Chủ tịch Cuba Raul Castro tại Vatican, ngày 10/05/2015.

Trọng Thành (rfi) - « Một quyết định chưa từng có » kể từ khi chế độ cộng sản nắm quyền tại Cuba : 3.522 tù nhân được ân xá, theo báo Granma. Lý do chính thức được đưa ra là chuyến công du của Giáo hoàng Phanxicô tới đảo quốc, từ ngày 19 đến 22/09/2015.
Theo nhật báo Granma, cơ quan ngôn luận của nhà nước cộng sản, trong số những người được trả tự do có nhiều người trên 60 tuổi, hoặc dưới 20 tuổi, không có tiền án hình sự, những người mắc bệnh mãn tính, phụ nữ, những người nước ngoài... Quyết định nói trên có hiệu lực trong vòng 72 giờ.
Chính quyền Cuba không chính thức thông báo số lượng tù nhân trên toàn quốc, kể từ năm 2012. Vào thời điểm này, ước tính khoảng 57.000 người bị giam giữ tại hơn 200 trung tâm.
Sau nhiều năm căng thẳng, quan hệ giữa Giáo hội Công giáo và chính quyền La Habana dần dần được bình thường hóa trong những năm 2000, sau chuyến công du của Giáo hoàng Jean-Paul II. Trước chuyến thăm của Giáo hoàng tiền nhiệm Benedicto XVI năm 2012, Cuba đã từng thả gần 3.000 tù nhân, khoảng 300 người được thả trước chuyến công du của Jean-Paul II năm 1998, báo Granma nhắc lại.
Năm 2010, Hồng y Jaime Ortega, người đứng đầu Giáo hội Công giáo Cuba đã làm trung gian cho việc trả tự do cho các tù nhân chính trị. Từ đó đến nay đối thoại với chính quyền liên tục được duy trì. Về mặt chính thức, tại Cuba không còn tù nhân chính trị, sau đợt trả tự do cho 53 nhà ly khai (khoảng 60 người, theo Ủy ban Nhân quyền Cuba) trong quá trình đàm phán bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ.
Trong chuyến công du Cuba, Giáo hoàng có kế hoạch hội kiến với Chủ tịch Raul Castro. Giáo hoàng Phanxicô người Achentina đóng vai trò lớn trong việc thúc đẩy Cuba và Hoa Kỳ xích lại gần nhau.

Nguồn: http://donghoavangtt.blogspot.com/2015/09/cuba-xa-hon-3500-tu-nhan-truoc-khi-on.html
Sưu tầm: P.  Mai Tự Cường

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2015

Làm sao để Chúa được thấy rõ trên Internet?


9/9/2015 1:11:37 PMLàm cho Chúa thành hữu hình? Đó là một trong các đề tài được thảo luận trong Hội nghị Kitô giáo do báo La Vie tổ chức ở Strasbourg vào các ngày 2, 3 và 4 tháng 10-2015. Các dò tìm suy tư trong lãnh vực truyền thông, đặc biệt trên mạng Internet với Linh mục Eric Salobir, Dòng Đa Minh.




Tổng thư ký phụ trách truyền thông và giao tế của Dòng Đa Minh, được cử làm cố vấn cho Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội, linh mục Dòng Đa Minh Eric Salobir tập trung vào việc Giáo hội tự đặt câu hỏi về việc dùng truyền thông, đặc biệt là Internet. Theo cha, người công giáo phải đầu tư nhiều hơn nữa trong lãnh vực này để người đương thời được nhận biết Chúa.

Đâu là sứ mệnh của “ông Internet” Dòng Đa Minh và của “ông cố vấn” Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội?

Đối với các tu sĩ Dòng Đa Minh, công việc của tôi là sắp xếp lại cho có thứ tự các kỹ năng để rao giảng trong các mạng truyền thông mới. Ngoài các khóa đào tạo cho anh em trong dòng ở khắp nơi trên thế giới, nhiệm vụ của tôi là phát triển các chương trình sáng tạo mới. Chẳng hạn ở Toulouse, chúng tôi đưa ra một áp dụng cho các du khách hành hương các nơi thánh của Dòng Đa Minh. Đó là chỉ dẫn tự động để họ tải về máy điện thoại của mình, họ đi đến đâu, xem tác phẩm nào họ sẽ theo dõi được chỉ dẫn. Đó là cách đi tìm họ tại nơi họ đang ở, nói với họ trong ngôn ngữ của họ, mang đến một ý nghĩa thiêng liêng cho chuyến đi của họ. Còn sứ vụ của tôi trong trách vụ cố vấn ở Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội trong thời gian gần đây, là tham dự vào việc tái tổ chức lại hệ thống truyền thông của Vatican và gần đây việc này đã được Đức Phanxicô chấp nhận.

Hội đồng đã đi đến đâu trong việc tái tổ chức đang thực hiện này?

Tôi nghĩ là chúng ta sẽ thấy kết quả cụ thể trong những tháng sắp tới. Phải nói tái tổ chức là một công việc khổng lồ. Đây là công việc của 600 người và của nhiều cơ quan truyền thông khác nhau như Radio Vatican, báo Osservatore Romano và dĩ nhiên là bao gồm cả đài truyền hình. Một trong những ‘trận chiến’ là làm sao ít rườm rà và ít mất đường truyền như tình trạng hiện nay. Đức Giáo hoàng đã giữ lại đề nghị của hội đồng do ông Chris Patten chủ tọa, ông là cựu giám đốc điều hành cơ quan giám sát của đài BBC, ông đã đưa ra công khai chương trình làm việc của mình vào tháng 5 vừa qua. Ý tưởng là thành lập một Bộ và tái tổ chức lại tất cả hệ thống truyền thông để đem tất cả về một mối.

Eric-Salobir.jpg   
Nếu cha phải chọn một lãnh vực ưu tiên cho Giáo hội về mặt truyền thông thì cha sẽ chọn lãnh vực nào?

Đó sẽ là một hình thức tái hội nhập văn hóa để ngang với tầm cao của sự thay đổi khổng lồ của kỷ nguyên văn hóa kỹ thuật số. Ví dụ, việc điều hành các mạng và việc phát triển các mạng xã hội cần nhiều tương tác hơn. Ngày nay, người dân không còn chịu đựng được khi nhận chỉ thị từ trên cao. Đưa đến một sự tái hội nhập văn hóa cho Giáo hội có nghĩa là bỏ quyền bá chủ của văn viết mà cho đến hiện nay vẫn còn là cách luân lưu chính của Giáo hội. Phải có sự hiện diện của truyền thông đa dạng, bằng cách dùng một ngôn ngữ đa dạng hơn, hoàn toàn dành chỗ cho các chất vấn của người dân.

Trong công việc đối thoại này, tất cả mọi lực lượng đều cần thiết. Cần phải làm cho đám đông làm việc “crowd-sourcing”. Đối với tôi, chúng ta đang ở nơi mà ngày xưa Công đồng Vatican II đã dự trù: một dân tộc của các tín hữu, nơi mỗi người đến làm chứng cho đức tin của mình, trên các trang mạng xã hội, họ cũng làm như vậy.




Các trang mạng xã hội có phù hợp cho việc làm chứng cho đức tin không?

Có, người ta thường giải bày tâm sự cá nhân của mình trên các trang mạng. Nhất là đức tin. Nhà phân tâm Serge Tisseron với khái niệm giải bày của ông đã chứng tỏ cho thấy cái gì thân thiết trên các trang mạng xã hội thì cũng trở nên như thế ở ngoài. Dưới tiêu đề là thế tục, tôn giáo thường có khả năng bị đuổi ra khỏi cửa chính, nhưng nó có thể leo cửa sổ để đi vào. Lại phải ý thức điều này. Một cách chung chung, Giáo hội chưa giao tiếp đủ với văn hóa kỹ thuật số. Tôi nghĩ phải phát triển một kiểu tuyên úy mới cho kỹ thuật số, chẳng hạn như cảm hứng từ các tuyên úy nghệ sĩ mà Giáo hội đã biết đưa vào hoạt động từ những năm 50. Người ta có thể khoán trắng cho những người sẽ phát triển hệ thống truyền thông của giáo phận trên Internet. Đây là cách làm việc trong tinh thần hợp tác, linh động và tương tác, ít mang tính cách thể chế. Một vài địa phận đã làm việc như thế như địa phận Lyon.

Giáo hội như một mạng xã hội?

Giáo hội là một mạng xã hội! Giống như các cộng đồng Kitô đầu tiên, Giáo hội đã thành lập xã hội và có ảnh hưởng trên xã hội. Bây giờ Giáo hội phải tái tìm lại điều này. Không phải là khuấy động hết thứ trật vì cần phải có các cơ cấu thứ trật điều hòa. Nhưng phải có chiều kích mặt bằng ngang và học cách làm việc chung với nhiều người như các tôn giáo khác họ đã làm được như vậy.



Ngày nay đâu là tính hữu hình thông điệp Phúc Âm trên Internet?

Nó còn yếu. Nếu bạn gõ chữ “Chúa” trên video Youtube, những hình ảnh đầu tiên là lời của các tu sĩ Hồi giáo hay các video của Giáo hội Tin Lành làm. Có thể nói trên lãnh vực này, người công giáo còn ở sau đuôi.

Làm sao giải thích điều này?

Tôi nghĩ trên Internet, đừng lẫn lộn giữa tỏ cho thấy mình là tín hữu Kitô và làm cho Chúa được thấy rõ. Trên rất nhiều trang web của các giáo phận, chắc chắn bạn sẽ thấy mọi tin tức liên quan tới giáo phận và công việc, nhưng để biết Chúa là ai… thì lại là một chuyện khác. Chúng ta chưa thích đáng được với việc đi tìm đời sống thiêng liêng của những người sử dụng mạng mà không phải là người công giáo.


Sr. Christina Scuccina đoạt giải The voice of Italia, góp phần xứng đáng tôn vinh Danh Chúa trên mạng Internet

Thật sự họ tìm gì?

Các thế hệ trẻ thường không có một nền văn hóa tôn giáo nào. Với họ, Chúa Giêsu thì cũng là lạ như Đức Phật. Gần đây tôi đến trụ sở Google ở San Francisco. Các tìm tòi của người sử dụng công cụ tìm kiếm cho thấy người sử dụng gõ nhiều câu hỏi liên quan đến sự hiện diện của Chúa trong đời sống của họ: Chúa và tự do của tôi? Chúa và cái chết? Chúa can thiệp vào đời sống của tôi như thế nào? vv. Rõ ràng, người lên Internet để đi tìm Chúa sẽ không hỏi Ba Ngôi là gì, nhưng sẽ đặt các câu hỏi về đức tin và vì vậy câu trả lời phải là một chứng tá. Như thế thế hệ của những người công giáo nhạy cảm về văn hóa “vùi tìm,” họ vẫn còn chiếm đa số trong số những người giữ đạo và họ sẽ không thoải mái với hình thức truyền thông rõ ràng và thố lộ. Cho đến bây giờ, bản văn thật sự có tính hữu hình nổi bật, vẫn là của những người thuộc phái duy truyền. Đó là cả một thách thức cho người khác, nếu họ muốn đưa ra hình ảnh một Chúa khác.

Gần đây các sáng kiến của Hội đồng Giám mục Pháp như các trang jesus.catholique.fr hay noel.catholique.fr đều có mục đích đến gần với các cư dân mạng đi tìm Chúa này. Cha nghĩ gì?

Rất hay! Nhưng chưa đủ. Phải chất vấn về Giáo hội là ai và làm chứng thông điệp của Chúa Kitô cho ai. Chắc chắn đó không phải là công việc của một mình Hội đồng Giám mục Pháp, một hội đồng có nhiệm vụ điều hợp và cai quản. Bây giờ chúng ta làm việc cho ơn cứu độ trong tinh thần cộng tác hơn, sự lan truyền thông điệp dựa trên số lượng người hợp tác tích cực. Phải xem trọng khái niệm tinh thần tư tế chung được triển khai trong thời Công đồng Vatican II. Rằng mỗi người, theo vị trí của mình phải sẵn sàng làm chứng cho Chúa, nhất là trên Internet và đặc biệt trên các trang mạng xã hội, trong bối cảnh của một cử tọa tụ hợp lại. Như thế các cộng đoàn Kitô phải có một độ xốp lớn hơn với môi trường sáng tạo của kỹ thuật số. Nếu một vài người có ý tưởng thì làm sao họ được những người khác giúp đỡ? Giáo hội cung cấp cho họ phương tiện nào để họ có thể phát triển các ý tưởng này?


Có những sáng kiến trong lãnh vực này không?

Các tu sĩ Dòng Đa Minh vừa tổ chức một hội thảo về phát triển vi tính và phần mềm (hackathon) ở San Francisco để lọc ra các dự án kỹ thuật số liên quan đến việc phúc âm hóa. Các dự án nào được giữ lại sẽ có thể được triển khai trong lò ấp như từng có với những dự án mới nảy sinh. Chẳng hạn một ứng dụng di động gọi là Preachback sắp được ra mắt. Đây là khoảng không gian cho tín hữu để họ có thể cho ý kiến của mình về bài giảng ngày chúa nhật. Chỉ có linh mục mới nhận các phản hồi này, những phản hồi ông không bao giờ có dịp nghe và thường những phản hồi này chỉ là dịp ngồi lê đôi mách. Ứng dụng có thể giúp tạo ra một đối thoại đích thực chung quanh Lời Chúa! Các tu sĩ Dòng Đa Minh có dự án lập một lò ấp như thế ở Âu Châu.

(Marta An Nguyễn chuyển dịch, phanxico.vn 09.09.2015/

lavie.fr, Laurence Desjoyaux, 2015-09-04)
http://conggiao.info/news/2104/30610/lam-sao-de-chua-duoc-thay-ro-tren-internet.aspx
Sưu tầm: P. Mai Tự Cường